Cây Đinh Lăng “Nhân sâm cho người nghèo”

Cây Đinh lăng hay cây gỏi cánam dương sâm là một loài cây nhỏ thuộc chi Đinh lăng (Polyscias) của Họ Cuồng cuồng(Araliaceae). Cây được trồng làm cảnh hay làm thuốc trong y học cổ truyền. Dưới đây là một số tác dụng của cây đinh lăng.

Cây đinh lăng được dân gian ưu ái đặt cho cái tên là “nhân sâm cho người nghèo” vì những tác dụng chữa bệnh tuyệt vời của nó. Cây đinh lăng có thể sử dụng cả lá lẫn rễ để chữa các bệnh như ho, tắc tia sữa, làm lợi sữa, chữa kiết kỵ, mất ngủ, suy giảm trí nhớ… Tuy nhiên trong đó, rễ được người Việt ưu ái và tin tưởng hơn cả.

Tác dụng của cây đinh lăng
Tác dụng của cây đinh lăng

Lương y đa khoa Bùi Đắc Sáng (Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam, Hội Đông y Hà Nội) cho biết, trong Đông y , rễ cây có vị ngọt, hơi đắng , tính mát. Tác dụng là thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, dẻo dai, tăng cường sức chịu đựng.

TS Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP HCM cũng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu tác dụng của cây đinh lăng trong suốt 7 năm (2000-2007). Nghiên cứu của tiến sĩ Hương đã chỉ ra đinh lăng có các tác dụng dược lý tương tự như sâm nhưng giá thành lại rẻ hơn và dễ trồng hơn sâm. Cụ thể, theo nghiên cứu của tác giả, cây có tác dụng tăng thể lực, chống stress, kích thích các hoạt động của não bộ, giải tỏa lo âu, mệt mỏi, chống oxy hóa, bảo vệ gan, kích thích miễn dịch.

Lá có thể nghiền nhỏ và đặt trên vết thương để ngăn chặn sưng và viêm. Rễ có thể được đun sôi và uống để kích thích đi tiểu, làm dịu thần kinh, giảm đau khớp và hít phải để kích thích đổ mồ hôi.

Dịch chiết cồn của cây có tác dụng chống hen, chống histamin và ức chế tế bào mast giúp nó hữu ích trong việc điều trị hen suyễn.

Rễ đinh lăng có tác dụng tăng đáng kể chức năng bộ nhớ cũng như thời gian sống sót của chuột già.

Cây đinh lăng
Cây đinh lăng

Đặc biệt, trong rễ có chứa nhiều saponin có tác dụng giống như sâm, các vitamin B1, B2, B6, C và 20 acid amin cần thiết cho cơ thể và những acid amin không thể thay thế được như lyzin, cystein, methionin, nhờ thế mà đinh lăng giúp tăng trí nhớ, tăng sức đề kháng.

Cây Đinh lăng là loài cây quen thuộc với nhiều gia đình Việt Nam. Ở nước ta, đinh lăng có từ lâu và được trồng phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện để làm cảnh, làm thuốc và gia vị. Thậm chí cả trong quân đội mỗi đơn vị còn được yêu cầu trồng 1 vườn cây đinh lăng. Trong cuộc sống thường ngày, lá cây được sử dụng như rau sống hoặc có thể ăn kèm trong món gỏi cá.

Một số bài thuốc quý về rễ cây đinh lăng mà lương y Sáng chỉ ra như sau:

– Bồi bổ cơ thể, tăng cường sinh lực: Sử dụng vỏ rễ củ đinh lăng lượng đủ dùng đem ngâm rượu uống.

– Tiêu thực, kích thích tiêu hóa: Dùng 10g vỏ rễ đinh lăng đem đun cùng 200ml nước sạch. Đến khi lửa còn 150ml thì chia làm 2-3 lần uống trong ngày.

 Lợi sữa sau sinh: Chuẩn bị 20g vỏ rễ củ, 3 lát gừng. Bạn đổ 500ml nước sắc đến khi còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng, dùng liền 5 ngày.

– Phòng chống đau dạ con đối với phụ nữ sau sinh: Dùng lượng rễ (bỏ lõi), cành, lá sao đủ dùng đem sắc uống thay trà.

– Chữa ho, hen suyễn:

Chuẩn bị: 10g rễ đinh lăng, 8g bách bộ, 9g vỏ rễ dâu, 6g xương bồ, 8g nghệ vàng, 8g đậu săn, 8g rau tần dày lá, 4g gừng khô.

Cách dùng: Đổ 800ml nước sắc còn 300ml, chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng. Mỗi liệu trình 10 ngày.

Hỗ trợ điều trị phong thấp:

Chuẩn bị: 20g rễ đinh lăng bỏ lõi, 8g rễ cỏ xước, 8g thiên niên kiện, 8g hà thủ ô chế, 4g trần bì, 8g cối xay, 8g huyến rồng, 4g quế chi.

Cách dùng: Đổ 800ml nước sắc còn 300ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng, dùng liền 10 ngày.

Cây đinh lăng
Cây đinh lăng

Lưu ý quan trọng khi dùng rễ cây đinh lăng làm thuốc:

Theo lương y Sáng, rễ không có tác dụng chữa bách bệnh như đồn đoán mà chỉ có thể trị được một số bệnh nhất định. Ngoài ra, khi dùng để làm thuốc, người bệnh cần phải lưu ý một số vấn đề quan trọng kẻo gây ra tác dụng phụ.

Cụ thể như sau:

1. Do thành phần Saponin có nhiều trong rễ , chất này có tính phá huyết sẽ làm vỡ hồng cầu, vì vậy chỉ dùng khi cần thiết và phải dùng đúng liều đúng cách bào chế.

2. Không được dùng rễ với liều cao bởi sẽ bị say thuốc và xuất hiện cảm giác mệt mỏi, nôn mửa, tiêu chảy. Đặc biệt, khi sử dụng rễ phải dùng những cây đã có từ 3-5 tuổi trở lên (tuy nhiên không nên dùng những cây quá gia cỗi).

3. Khi bào chế một số rễ cây làm thuốc như rễ cây Dâu, rễ cây Ba kích… chúng ta bắt buộc phải bỏ lõi rễ vì có tác dụng phụ không tốt, thậm trí gây thủng dạ dày. Chính vì thế, đối với rễ Đinh lăng cũng nên rút bỏ lõi đi để đề phòng các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

4. Do ham “thẩm mỹ”, thích “khoa trương” nên nhiều người dùng toàn bộ bộ rễ cây Đinh lăng (thường có khối lượng lõi chiếm tỷ trọng lớn) ngâm rượu cho “đẹp bình”, họ coi đó như củ Nhân sâm thực thụ (rất tiếc là các củ Sâm thường không có lõi) để ngâm loại rượu “đại bổ dưỡng” uống hàng ngày. Điều này nên cân nhắc kỹ và xem lại khâu bào chế cho đúng cách.

 

Lưu ý

Theo ông Phó Hữu Đức (Chủ tịch Hội Đông y quận Cầu Giấy, Hà Nội) trong rễ cây đinh lăng có chứa nhiều saponin… có thể làm vỡ hồng cầu. Vì vậy, chỉ dùng khi cần thiết và dùng đúng liều, đúng cách. Càng không được dùng rễ cây đinh lăng với liều cao vì sẽ gây say thuốc, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, buồn nôn, tiêu chảy.

Xem thêm: Lá ngón chứa chất kịch độc gì mà có thể giết người trong “nháy mắt”?